Dear ANSN User!

This site will look much better in a browser that supports web standards, but it is accessible to any browser or Internet device.

Asian Nuclear Safety Network
Pooling, Analysing and
Sharing Nuclear Safety Knowledge
  • 00.QuocTuGiam.jpg
  • 01.Thacbandoc.jpg
  • 02.Sapa.jpg
  • 03.RuongBacThang.jpg
  • 04.HalongBay.jpg
  • 05.HoHoanKiem.jpg
  • 06.CHuaMotCot.jpg
  • 07.Dongque.jpg
  • 08.DalatHoXuanHuong.jpg
  • 09.BienVietNam.jpg
  • 10.CangdongMienTay.jpg
  • 11.ThanphoHCM.jpg
ANSN NewsANSN Topics
Published : 2022-06-28 21:16:28 by admin
Để góp phần giải quyết một cách nhanh chóng và hiệu quả cuộc khủng hoảng khí hậu toàn cầu, chúng ta không thể bỏ qua năng lượng hạt nhân (một phần quan trọng của nguồn năng lượng hỗn hợp ít phát thải carbon, sạch và đáng tin cậy). Trong cuộc chạy đua biến đổi khí hậu này, ngành công nghiệp hạt nhân thế giới cần sự hỗ trợ của các chính phủ, trước mắt cũng như lâu dài. Chương trình Harmony của Hiệp hội hạt nhân Thế giới (World Nuclear Association) ước tính, năng lượng hạt nhân cần được mở rộng tương đương với mức gia tăng của năng lượng tái tạo để có thể cung cấp ít nhất 25% nhu cầu điện năng thế giới vào năm 2050. Điều đó tương đương với việc cần gia tăng số lượng các nhà máy điện hạt nhân được xây mới hàng năm với công suất khoảng 1 gigawatt (Gwe) từ 7 nhà máy lên khoảng 30 nhà máy. Trong cuộc chạy đua với biến đổi khí hậu, việc xây dựng 30 nhà máy hạt nhân mới mỗi năm là một mục tiêu đầy tham vọng và ẩn chứa nhiều thách thức. Vậy, ngành hạt nhân thế giới phải đối đầu với những vấn đề gì để đạt được mục tiêu này, nhất là khi nó đang ở trong thế gắn bó chặt chẽ giữa các hệ thống nhà máy điện hạt nhân, công nghệ hạt nhân cũ và mới? Tuy nhiên, những vấn đề đặt ra trong thực tiễn hiện nay còn phức tạp hơn thế. Theo một nghiên cứu gần đây của Sáng kiến Năng lượng MIT (MIT Energy Initiative), các bài học và vấn đề diễn ra trong các lĩnh vực công nghiệp khác cũng có thể liên quan tới việc cải thiện quy hoạch, cấp phép và xây dựng cơ sở hạt nhân, vốn là những yếu tố hiện đang gây khó khăn cho ngành công nghiệp hạt nhân. Từng trải qua thời kỳ hoàng kim vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, nhưng sau nhiều thập kỷ, ngành công nghiệp hạt nhân đã mất khả năng đó trong vài thập kỷ vì nhiều lý do chủ quan và khách quan. Để hạn chế những điểm bất lợi đó và đưa năng lượng hạt nhân trở lại với tư cách là một giải pháp bền vững trong giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, chúng ta cần các hỗ trợ ngoài ngành hạt nhân để có thể triển khai từng giai đoạn nâng cấp nhà máy và xây dựng các nhà máy mới với công nghệ tiên tiến.

Cần xây dựng các nhà máy công nghệ hạt nhân thế hệ mới

Thiết kế và xây dựng nhà máy điện hạt nhân thương mại thường dựa trên quy mô thế hệ bắt đầu từ các nhà máy thế hệ thứ nhất (Gen I) cho đến các nhà máy thế hệ thứ tư (Gen IV) tiên tiến nhất. Hiện tại, hầu hết các nhà máy điện hạt nhân trên thế giới đều thuộc thế hệ công nghệ thứ hai (Gen II). Ở một số quốc gia trên thế giới, lò phản ứng thế hệ thứ ba và tiên tiến (Gen III và III +) cũng được hoàn thành và kết nối với lưới điện. Diễn đàn quốc tế thế hệ IV (The Generation IV International Forum GIF) - một tổ chức quốc tế thúc đẩy các công nghệ năng lượng hạt nhân mới, đã xác định sáu hệ thống năng lượng hạt nhân hứa hẹn nhất cho hiện thực hóa thương mại (bao gồm các lò phản ứng nhanh khác nhau với chu trình nhiên liệu kín, lò phản ứng muối nóng chảy, lò phản ứng siêu tới hạn và lò phản ứng nhiệt độ rất cao). Ở đây, chu trình nhiên liệu khép kín là chúng ta có thể tái chế nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng và trích xuất những yếu tố đã tham gia vào quá trình tạo năng lượng như uranium và plutonium tại cùng một vị trí của lò phản ứng. Điều này sẽ giúp chúng ta không phải vận chuyển nhiên liệu có chứa plutonium tới nơi chôn cất nhiên liệu như cách làm thông thường, vốn có khoảng cách xa với nhà máy điện hạt nhân, thậm chí xuyên biên giới. Phần lớn, các công nghệ hạt nhân tiên tiến này đều sử dụng chu trình nhiên liệu kín. Dù đang thăm dò và nghiên cứu chu trình như vậy, nhưng hiện tại, Hoa Kỳ vẫn đang sử dụng chu trình nhiên liệu mở, vốn không cần xử lý lại, hoặc tái chế nhiên liệu đã qua sử dụng (trước đây, Hoa Kỳ là nhà tiên phong của lò phản ứng neutron nhanh làm mát bằng natri cho đến khi quyết định từ bỏ công nghệ đầy hứa hẹn này do những lo ngại về sự phổ biến vũ khí hạt nhân). Mặt khác, Nga và Pháp sử dụng chu trình nhiên liệu kín cho thế hệ lò phản ứng hiện tại. Các công nghệ Gen IV tiên tiến với các ý tưởng tái xử lý nhiên liệu hạt nhân vẫn còn trong giai đoạn đầu của nghiên cứu và phát triển. Do đó, chúng ta vẫn cần nhiều năm thử nghiệm trước khi triển khai các lò phản ứng Gen IV một cách tin cậy, an toàn, không phát sinh chi phí đầu tư trên quy mô thương mại.

Chính sách hỗ trợ các công nghệ hạt nhân thế hệ cũ và mới

Chúng ta cần rất nhiều năm để tới khi công nghệ thế hệ Gen IV sẵn sàng được thương mại hóa. Do đó, để đáp ứng mục tiêu xây dựng 30 nhà máy hạt nhân mỗi năm, chúng ta nên áp dụng một cách làm phù hợp (gia hạn tuổi thọ và gia hạn giấy phép cho các lò phản ứng hiện hành trong thời gian tới; ra mắt các lò phản ứng thế hệ Gen III và III + nâng cấp trong thời kỳ trung hạn; xây dựng các lò phản ứng, chủ yếu theo công nghệ Gen IV trong dài hạn).

Khuyến nghị ngắn hạn (2020-2030):

Ngày nay, có khoảng 450 lò phản ứng hạt nhân đang vận hành trên toàn thế giới, với công suất khoảng 400.000 megawatt điện (Mwe). Nhiều lò phản ứng thế hệ II với độ tuổi từ 30 đến 40 năm đang phải đối mặt với khả năng ngừng hoạt động, hoặc gia hạn giấy phép. Tại Hoa Kỳ, 86 trong số 99 nhà máy hạt nhân đã được gia hạn giấy phép để kéo dài thời gian hoạt động lên tới 60 năm, thậm chí có kế hoạch mở rộng thời gian lên tới 80 năm. Tuy nhiên, việc gia hạn thời gian vận hành sẽ phải vượt qua những đánh giá an toàn nghiêm ngặt, đồng thời chứng minh được tính kinh tế trong vận hành. Hiện tại, Pháp cũng đang theo đuổi việc kéo dài tuổi thọ cho nhóm lò phản ứng hiện tại của mình thêm 10 năm (theo quy định Grand Carénage của Cơ quan điện lực Pháp EDF). Việc cấp giấy phép gia tăng thời gian vận hành cho 214 lò phản ứng có công suất 200.368 Mwe, vốn đã qua 30 đến 40 năm vận hành, thay vì đóng cửa chúng sẽ giúp năng lượng hạt nhân khả năng giữ vững vị trí trong cung cấp điện năng trên quy mô toàn cầu. Ngoài việc mở rộng giấy phép hoạt động của các nhà máy này, cần thiết có thêm sự hỗ trợ của chính phủ thông qua cung cấp các khoản tín dụng để nâng cấp kỹ thuật như thay thế máy phát hơi nước, các biện pháp kiểm soát lũ lụt, tháp giải nhiệt, hoặc tăng cường khả năng chống động đất. Những gì diễn ra trong hiện tại cho thấy, ở nhiều quốc gia, năng lượng hạt nhân không có được điều này. Ví dụ tại Hoa Kỳ, bất kỳ khoản hỗ trợ nào cho điện hạt nhân từ chính phủ tại Hoa Kỳ cũng bị phản đoosi, mặt khác nó còn phải chịu cạnh tranh về chi phí với các nhà máy khí tự nhiên, góp phần dẫn đến việc đóng cửa sớm khoảng 20 nhà máy hạt nhân. Mặc dù trước mắt các nhà máy khí đốt tự nhiên thải ra ít carbon hơn các nhà máy nhiệt điện than, nhưng về lâu dài, chính phủ cần kéo dài tuổi thọ của các nhà máy hạt nhân hiện tại, dự kiến sẽ phải đóng cửa sớm vào năm 2025. Tuy nhiên, ở Nga, với sự chỉ đạo trực tiếp của chính phủ, ngành công nghiệp hạt nhân đang phát triển mạnh và nhận được sự hỗ trợ dưới nhiều hình thức khác nhau.

Khuyến nghị trung hạn (2025-2040):

Trong giai đoạn này, với nhu cầu ngày càng tăng về điện năng và sự cấp bách thay thế các nhà máy than hiện có, các nước đang phát triển cần xây dựng các nhà máy điện hạt nhân mới. Khó khăn mà họ phải đối mặt là phải mất từ 5 đến 8 năm để xây dựng một nhà máy điện hạt nhân mới, điều này khiến tăng chi phí đầu tư. Do vậy, cần giảm thời gian xây dựng để đáp ứng yêu cầu của 30 nhà máy mỗi năm và để có được điều này, các chính phủ có thể áp dụng một chiến lược tiêu chuẩn hóa có thể nhân rộng, giúp kiểm soát và giảm chi phí vốn đầu tư của các nhà máy hạt nhân. Có thể trong giai đoạn này, những thay đổi đáng kể cần được thực hiện trong ngành công nghiệp hạt nhân của Hoa Kỳ để hỗ trợ sản xuất và xây dựng các nhà máy mới. So với Trung Quốc, Hoa Kỳ phải đối mặt với các vấn đề pháp lý, hậu cần và kinh tế phức tạp và rối rắm hơn. Ví dụ, việc xây dựng hai lò phản ứng nước nhẹ tiên tiến ở Nam Carolina đã bị bỏ xó vì chi phí tăng, sự chậm trễ trong xây dựng… Westinghouse, nhà cung cấp công nghệ cho nhà máy, đã tuyên bố phá sản trong khi hai dự án có thiết kế tương tự, quy mô lớn hơn ở Trung Quốc đã hoàn thành, kết nối với lưới điện quốc gia. Rút những bài học kinh nghiệm này, các nước phát triển nên áp dụng cách quản lý dự án và triển khai xây dựng thành công như vậy. Để mọi việc được tiến hành thuận lợi, các chính phủ cần đầu tư kinh phí để chia sẻ chi phí cấp phép theo quy định, chi phí cho R&D cũng như chi phí dành cho lò phản ứng đầu tiên theo công nghệ mới để giúp ngành đạt được các mốc kỹ thuật cụ thể. Tương tự các khoản kinh phí đầu tư cho các nhà máy điện gió, hỗ trợ của chính phủ trong các khoản tín dụng chi phí sản xuất để thưởng cho hoạt động thành công của các thiết kế mới sẽ hữu ích, thúc đẩy sự ra đời các nhà máy điện hạt nhân công nghệ mới. Chúng ta có thể nhìn thấy hiệu quả từ các hỗ trợ này, ví dụ việc thiết kế lò phản ứng một cách hiệu quả sẽ tránh được các yêu cầu làm lại tốn kém sau này khi tiến hành xây dựng. Điều này càng có ý nghĩa bởi sau tai nạn nhà máy hạt nhân Fukushima, một số tiến bộ về an toàn được bổ sung với những yêu cầu mới về các loại vật liệu ốp và nhiên liệu mới, bể chứa nước lớn trong trường hợp mất chất làm mát và xây hai lớp vỏ bảo vệ lò phản ứng cũng như các bơm, máy phát điện diesel phòng trường hợp khẩn cấp được chuyển lên khu vực cao hơn. Về môi trường pháp lý, các chính phủ nên thiết lập các chương trình tài trợ xung quanh việc thử nghiệm nguyên mẫu và triển khai thương mại hóa các thiết kế lò phản ứng tiên tiến. Để tăng cường năng lực cho nguồn nhân lực, các chính phủ nên hỗ trợ việc đào tạo tại các trường đại học gần với các nhà máy điện hạt nhân; mở rộng các chương trình đào tạo quốc tế phối hợp dựa trên kinh nghiệm thành công đạt được từ những nơi khác nhau; khuyến khích tất cả các quốc gia có nhà máy điện hạt nhân trở thành thành viên của các tổ chức an toàn hạt nhân để cải thiện năng lực an toàn của mình.

Khuyến nghị dài hạn (2040-2050):

Theo Diễn đàn Quốc tế Gen IV, trong các khung thời gian dài hơn, các lò phản ứng Gen IV sẽ chiếm ưu thế tại những nhà máy điện hạt nhân mới. Song song với đó, các lò phản ứng nhanh sẽ đem lại nhiều lợi ích tiềm năng như sử dụng tài nguyên uranium tốt hơn. Ví dụ, việc tạo ra mỗi Gwe điện trên lò phản ứng nước nhẹ thông thường cần tới khoảng 75 tấn nhiên liệu uranium với độ làm giàu thấp, nhưng đối với các lò phản ứng tiên tiến như lò phản ứng nhanh BN-1200 mới của Nga chỉ cần 4 tấn. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, việc mở rộng quy mô các lò phản ứng nhanh chưa thực hiện được, đặc biệt là ở Hoa Kỳ và Pháp. May mắn là kinh nghiệm với các cơ sở trình diễn quy mô nhỏ ở Nga và Trung Quốc đang tạo điều kiện cho họ theo đuổi các lò phản ứng nhanh quy mô thương mại trong vòng từ 10 đến 20 năm tới. Nga có kế hoạch kết nối một lò phản ứng nhanh làm mát bằng natri tiên tiến, BN-1200 với công suất 1.200 Mwe, vào lưới điện quốc gia vào năm 2032. Trung Quốc dự đoán công nghệ CFR 1000 công suất 1.000 đến 1.200 Mwe, sẽ được xem xét vào năm 2020. Một số quốc gia châu Âu cũng đang trong quá trình nghiên cứu và nhiều tập đoàn nghiên cứu hạt nhân châu Âu đang trong quá trình thiết kế, phát triển và xây dựng bốn lò phản ứng trình diễn. Pháp đang có kế hoạch tái gia nhập thị trường lò phản ứng nhanh và Ấn Độ cũng đang phát triển các dự án thí điểm chu trình nhiên liệu và chu trình tương tự.

Tại Hoa Kỳ, các lò phản ứng mô-đun nhỏ có nhiều hứa hẹn nhất cho sự phát triển của Gen IV. NuScale, lò phản ứng mô-đun nhỏ, là loại lò đầu tiên trải qua quá trình đánh giá chứng nhận thiết kế của Ủy ban pháp quy hạt nhân Hoa Kỳ. Một khi chứng chỉ thiết kế được cấp, người ta sẽ không được yêu cầu bất cứ thay đổi nào trong thiết kế và trong quá trình cấp phép, sẽ không lật lại các vấn đề an toàn kỹ thuật đã được giải quyết và phê duyệt, nhằm rút ngắn thời gian cấp phép trước khi bắt đầu xây dựng. Có thể tìm thấy thị trường cho các lò phản ứng mô-đun nhỏ ở các nước đang trong quá trình công nghiệp hóa với lưới điện nhỏ hoặc khép kín. Các công ty khởi nghiệp Hoa Kỳ đang nghiên cứu các lò phản ứng muối nóng chảy, dẫu còn cách xa mốc thử nghiệm. Do các nước đang phát triển có nhu cầu cần nhiều năng lượng hơn và thế giới phát triển sẽ làm tăng ô nhiễm với các nhà máy than, các chính phủ nên hợp tác với ngành công nghiệp hạt nhân để từng bước xây dựng các nhà máy điện hạt nhân thế hệ tiếp theo song song với việc nâng cấp các cơ sở hiện có. Mặc dù có vẻ táo bạo, nhưng mục tiêu xây dựng 30 nhà máy mỗi năm sẽ là chìa khóa để giúp thế giới đáp ứng các mục tiêu phát thải carbon được đặt ra trong Thỏa thuận Paris.

  [ Read more ... ]

Published : 2022-06-28 21:07:05 by admin

Dự án cấp nhiệt thương mại bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên của Trung Quốc bắt đầu triển khai tại nhà máy điện hạt nhân Haiuang, tại tỉnh Shandong (Sơn Đông). Nhà máy có hai tổ lò AP1000 ban đầu được sử dụng để cấp nhiệt cho 700.000 mét vuông nhà ở trong mùa đông.

Ban đầu hệ thống này giúp sưởi ấm cho 700.000 mét vuông nhà ở trong mùa đông, bao gồm cả khu tập thể của SDNPC và dân cư sống quanh nhà máy Haiyang. Việc sử dụng năng lượng hạt nhân để sưởi ấm đã giúp giảm thiểu 23300 tấn than mỗi năm, cắt giảm 222 tấn khí bồ hóng, 382 tấn sulfur dioxide, 362 nitrogen oxide, và 60000 tấn carbon dioxide. Dự án cấp nhiệt từ năng lượng hạt nhân Haiyang được kỳ vọng đảm bảo nhu cầu nhiệt cho cả thành phố Haiyang vào năng 2021. Theo SDNPC, với những điều chỉnh nhỏ, tổ lò Haiyang số 1 và 2 có thể cung cấp nhiệt cho 30 triệu mét vuông sàn. Với sự hoàn thiện và triển khai các tổ lò tiếp theo ở Haiuang, nhà máy có thể nâng tổng công suất cấp nhiệt sưởi ấm cho 200 triệu mét vuông sàn trong bán kính 100 km, giảm thiểu 6,62 triệu tấn than. Có thể có đến 6 tổ lò CAP1000 dự kiến được xây dựng tại nhà máy Haiyang. Việc sử dụng nhiệt từ các nhà máy điện hạt nhân không làm tăng chi phí sản xuất điện và lợi ích của những công ty cấp nhiệt không bị ảnh hưởng, SDNPC thông báo. Lợi ích kinh tế và môi trường rất to lớn, hiệu suất của nhà máy điện hạt nhân được cải tiến, và một ngành công nghiệp mới được khuyến khích phát triển.

Chính phủ Trung Quốc đã ưu tiên cấp nhiệt bằng năng lượng sạch, trong năm 2017 đã ban hành hướng dẫn cụ thể về vấn đề này ở miền bắc Trung Quốc. Cơ quan Năng lượng Quốc gia đã đưa ra kế hoạch 5 năm, từ 2017 đến 2021, nhấn mạnh vào việc sử dụng kỹ thuật cấp nhiệt sạch. Nga, một số nước Đông Âu, Thụy Điển và Thủy Sĩ đã lên kế hoạch cấp nhiệt bằng nhiên liệu hạt nhân, và lấy nhiệt từ những nhà máy điện hạt nhân cũng được tận dụng tối đa ở những nước này. Tổ lò Haiyang số 1 đi vào vận hành thương mại tháng Mười năm 2018, tổ lò số 2 làm việc từ tháng Một năm 2019. Hai tổ lò này cung cấp 20 TWh điện mỗi năm, đáp ứng 1/3 nhu cầu tại tỉnh Sơn Đông. Cuối tháng trước, SDNPC đã ký kết hợp động liên quan đến dự án khử muối công suất lớn để cấp nước ngọt cho dân cư và các hoạt động công nghiệp tại Haiyang.

World Nuclear News

Published : 2022-06-28 21:06:27 by admin
img_280622040422.jpg

Trong bài toán đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng của Việt Nam, chúng ta cần phải chuẩn bị những gì?

Để trả lời một phần câu hỏi này, Báo cáo Triển vọng năng lượng Việt Nam năm 2019 (EOR19) do Cục Điện lực và năng lượng tái tạo (Bộ Công thương) phối hợp với Cục Năng lượng (Đan Mạch) xây dựng - một phần trong khuôn khổ Chương trình hợp tác đối tác năng lượng Việt Nam và Đan Mạch giai đoạn 2017-2020 do chính phủ Đan Mạch tài trợ - công bố vào đầu tháng 11/2019 đã đưa ra gợi ý về những kịch bản năng lượng và khuyến nghị chính sách đối với cơ cấu năng lượng Việt Nam đến năm 2050 được coi như một kênh tham khảo hữu ích. EOR19 đã đưa ra một viễn cảnh về tương lai năng lượng Việt Nam, chủ yếu dựa vào các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng xanh vốn đang ngày một thịnh hành và phổ biến trên thế giới như điện gió, điện Mặt trời, điện sinh khối… - một trong những yếu tố quan trọng để các quốc gia có thể thực hiện cam kết cắt giảm phát thải khí nhà kính, chống biến đổi khí hậu

Tuy nhiên, một tương lai dựa vào những nguồn năng lượng tái tạo này có đủ an toàn và đảm bảo an ninh năng lượng cho Việt Nam?

Những kịch bản năng lượng xanh hấp dẫn

Nhóm chuyên gia thực hiện EOR19 đã đề xuất năm kịch bản mà họ cho rằng có thể “minh họa những lộ trình phát triển khác nhau cho hệ thống năng lượng của Việt Nam” vào năm 2030 và năm 2050. Đó là những kịch bản tập trung vào hai vấn đề chính là năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng: 1. Không đạt được các mục tiêu về năng lượng tái tạo, không hạn chế nguồn nhiệt điện than và không áp dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng ở phía tiêu dùng; 2. Có mục tiêu năng lượng tái tạo cho ngành điện và không áp dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng ở phía tiêu dùng; 3. Không xây dựng nhà máy nhiệt điện than mới, thực chất là bổ sung cho kịch bản 2 về mục tiêu năng lượng tái tạo, hạn chế đầu tư các nhà máy điện than mới bắt đầu từ năm 2025, mặc dù công suất nhiệt điện than trong nước vẫn được giữ nguyên; 4. Tiết kiệm năng lượng là sự bổ sung cho kịch bản 2 về mục tiêu năng lượng tái tạo, cho phép đầu tư vào các công nghệ tiết kiệm năng lượng với tỷ lệ áp dụng 50% ở phía tiêu dùng vào năm 2030 và 100% vào năm 2050; 5. Kết hợp các kịch bản trên, trong đó có phát triển năng lượng tái tạo, hạn chế nhiệt điện than từ năm 2025 và áp dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng với tỷ lệ cao. Trong các kế hoạch dài hạn của các quốc gia tiên tiến này, họ vẫn xác định một cơ cấu năng lượng hỗn hợp với đầy đủ các thành phần năng lượng, từ năng lượng truyền thống như điện than, thủy điện, khí hóa lỏng đến năng lượng mới như hạt nhân, điện gió, điện Mặt trời, sinh khối…, trong đó tùy theo đặc điểm của từng quốc gia mà xác định các nguồn phụ tải nền, phụ tải trung gian và phụ tải đỉnh. Sau khi tính toán các chi phí hệ thống năng lượng (bao gồm chi phí đầu tư tính theo năm, chi phí nhiên liệu, chi phí vận hành và bảo dưỡng), nhóm tác giả nhận thấy có một số hiệu quả hứa hẹn mà các kịch bản đem lại như “mặc dù chi phí hệ thống sẽ tăng lên khi hạn chế đầu tư vào các nhà máy nhiệt điện than mới, nhưng việc tập trung vào đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng sẽ làm giảm đáng kể chi phí tăng thêm” (Kịch bản 5); phát thải CO2 thấp nhất trong kịch bản 5; kịch bản 3 đến năm 2030 sẽ đạt tỷ trọng năng lượng tái tạo cao nhất vào năm 2030 nhưng về dài hạn thì kịch bản 5 sẽ đạt tỷ trọng này cao nhất; nhập khẩu nhiên liệu thấp nhất với kịch bản 5. Do vậy, nhóm chuyên gia đã nhận xét, các kịch bản đều có thể đáp ứng mục tiêu năng lượng tái tạo (bao gồm cả thủy điện lớn và nhỏ) cho ngành điện trong Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (trừ kịch bản 1), tuy nhiên đối với mục tiêu tiết kiệm năng lượng thì kịch bản 4 không đáp ứng được mục tiêu đề ra vào năm 2050.

Kết hợp các chi phí hệ thống năng lượng với các tác động khí hậu, nhập khẩu nhiên liệu, mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu…, các chuyên gia đi đến kết luận, “việc kết hợp các nỗ lực thúc đẩy năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng, đồng thời hạn chế đầu tư vào các nhà máy nhiệt điện than mới giúp đạt được các kết quả tốt nhất”. Họ đưa ra con số tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu năng lượng có thể tăng lên trên 20% vào năm 2050 nếu Việt Nam thực hiện các giải pháp hạn chế nhà máy nhiệt điện than mới. Do nhìn nhận các công nghệ và các biện pháp tiết kiệm năng lượng chỉ đem lại một tác động hạn chế đối với tăng cường tỷ trọng năng lượng tái tạo, họ cho rằng việc hạn chế các nhà máy nhiệt điện than như thực hiện trong kịch bản 3 và kịch bản 4 mới tạo ra cơ hội lớn cho phát triển năng lượng tái tạo.

Giải pháp nào khả thi?

Trên thế giới, đặc biệt ở châu Âu, Mỹ và Nhật Bản, những nơi dành nhiều đầu tư cho R&D về năng lượng tái tạo, sở hữu nhiều công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực năng lượng cũng như có lượng phát thải khí thải nhà kính cao, việc xác định cơ cấu điện năng dài hạn luôn được các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia năng lượng quan tâm. Dù ưu tiên vào phát triển năng lượng tái tạo vấn đề phát triển năng lượng tái tạo và vai trò của nó trong cơ cấu điện năng của một quốc gia vẫn là gây nhiều tranh cãi. Và trên thực tế, dù theo đuổi năng lượng tái tạo thì những quốc gia này vẫn phụ thuộc vào năng lượng từ các nhà máy nhiệt điện than, hay nói cách khác, nhiệt điện than là phần quan trọng trong nguồn phụ tải nền do hoạt động ổn định và chi phí thấp.

Do đó, trong các kế hoạch dài hạn của các quốc gia tiên tiến này, họ vẫn xác định một cơ cấu năng lượng hỗn hợp với đầy đủ các thành phần năng lượng, từ năng lượng truyền thống như điện than, thủy điện, khí hóa lỏng đến năng lượng mới như hạt nhân, điện gió, điện Mặt trời, sinh khối…, trong đó tùy theo đặc điểm của từng quốc gia mà xác định các nguồn phụ tải nền, phụ tải trung gian và phụ tải đỉnh.

Khi chưa tìm được một nguồn cung năng lượng xanh và bền vững như mong muốn thì có thể thấy một phần giải pháp đó ở ngay trong các kịch bản mà EOR19 đưa ra, đó là tiết kiệm năng lượng ở phía người tiêu dùng.

Tại sao năng lượng tái tạo vẫn chưa được xác định là nguồn cung năng lượng chính? Theo nhận định của Burton Richter, nhà vật lý Mỹ từng đoạt giải Nobel về phát hiện ra hạt J/ψ meson, vấn đề của năng lượng tái tạo không chỉ ở sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên như ai cũng biết (ví dụ gió thổi, mặt trời chiếu sáng) mà còn là “sự gia tăng về quy mô không đủ nhanh để đạt tới mức giá rẻ và thực tế trước những yêu cầu của nền kinh tế toàn cầu đang tăng trưởng”. Ngay cả Cơ quan Năng lượng tái tạo quốc tế (IRENA) cũng từng thừa nhận trong một báo cáo năm 2015 là “năng lượng tái tạo cần phải tăng quy mô ít nhất gấp sáu lần hiện nay để thế giới bắt đầu đáp ứng được các mục tiêu của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu đề ra”. Trong xu thế chung ấy, một kịch bản phụ thuộc vào năng lượng tái tạo và “đoạn tuyệt” với nhiệt điện than chưa thật sự phù hợp với Việt Nam, dù cho các kịch bản của EOR19 cũng đưa ra triển vọng đầy hứa hẹn: “nếu không xây dựng các nhà máy nhiệt điện than mới sau năm 2025, tỷ trọng của điện Mặt trời và điện gió sẽ cao hơn trong cơ cấu nguồn điện (tương ứng là 22% và 40% vào năm 2030 và 2050), và tỷ trọng năng lượng tái tạo sẽ đạt 50% vào năm 2050”. Tuy nhiên, dù lạc quan mấy thì các chuyên gia EOR19 cũng phải thừa nhận trong báo cáo của mình, “mặc dù các kịch bản trên cơ sở mô hình hóa cho thấy những lợi ích trong đẩy nhanh quá trình chuyển đổi xanh tại Việt Nam, vẫn cần có thêm các phân tích, sự cân nhắc kỹ cũng như xác định ưu tiên của các nhà hoạch chính sách để có thể xác định được một lộ trình phát triển năng lượng khuyến nghị cho Việt Nam”.

Giải pháp khả thi cho bài toán năng lượng Việt Nam là gì? Khi chưa tìm được một nguồn cung năng lượng xanh và bền vững như mong muốn thì có thể thấy một phần giải pháp đó ở ngay trong các kịch bản mà EOR19 đưa ra, đó là tiết kiệm năng lượng ở phía người tiêu dùng. Theo tính toán của ROR19, việc tiết kiệm năng lượng sẽ làm giảm tổng chi phí hệ thống năng lượng ngay từ năm 2030, trong đó mức giảm về chi phí nhiên liệu và nhu cầu điện năng thậm chí có thể cao hơn so với mức tăng chi phí đầu tư trong các lĩnh vực sử dụng năng lượng. Hiệu quả của các biện pháp tiết kiệm năng lượng được định lượng một cách rõ ràng: ngay cả trong trường hợp áp dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng như thay thế các công nghệ cũ, tiêu tốn nhiều năng lượng, nhiên liệu hay phát thải lớn đòi hỏi những suất đầu tư “lên đến 7 tỷ USD vào năm 2030 và 16 tỷ USD vào năm 2050 thì Việt Nam vẫn có thể tiết kiệm được một lượng lớn chi phí nhiên liệu và đầu tư trong ngành điện, qua đó dẫn tới tổng chi phí hệ thống hằng năm giảm 8,9% năm 2030 và 10,6% năm 2050”, các chuyên gia EOR19 lưu ý. Điều này hoàn toàn trùng khớp với nhận định của các chuyên gia Việt Nam. Ví dụ theo ông Chu Bá Thi, chuyên viên năng lượng của Ngân hàng Thế giới tại Diễn đàn năng lượng Việt Nam: Tiết kiệm năng lượng cho ngành công nghiệp Việt Nam phát triển bền vững vào tháng 8/2019, “chi phí xã hội bỏ ra để tiết kiệm một đơn vị điện năng chỉ bằng 1/3, 1/4 so với chi phí sản xuất ra một đơn vị điện năng mới”. Còn ở góc độ của một nhà quản lý và tư vấn chính sách, ông Đỗ Hữu Hào, chủ tịch Hội KH&CN Sử dụng năng lượng điện tiết kiệm và hiệu quả (Bộ Công thương) đưa ra một con số ấn tượng, nếu nâng tỷ lệ tiết kiệm năng lượng lên đến mức 10% thay vì khoảng 6% như hiện nay thì mỗi năm, mức năng lượng Việt Nam tiết kiệm được sẽ tương đương công suất của một nhà máy điện tầm trung.

Với nhận thức này mà tiết kiệm năng lượng là vấn đề mà Việt Nam theo đuổi nhiều năm qua với một loạt chính sách, chương trình quốc gia, tuy nhiên khâu thực thi chưa thật sự hiệu quả ở các lĩnh vực được nhìn nhận là tiêu thụ nhiều điện năng nhất như công nghiệp (chiếm 55%), chiếu sáng, sinh hoạt (32%) – số liệu báo cáo năm 2018 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Dù nhận thức được hiệu quả của tiết kiệm năng lượng nhưng theo chia sẻ của ông Trịnh Quốc Vũ, Phó Vụ trưởng Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững (Bộ Công thương) thì “các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm về lợi ích công nghệ mang lại, đặc biệt với những lĩnh vực ngành nghề mà chi phí năng lượng trên giá thành sản phẩm thấp”. Đối với những doanh nghiệp mong muốn đổi mới công nghệ bằng giải pháp vay vốn ngân hàng thì “gặp phải nhiều bất cập và rào cản trong cơ chế tài chính. Chi phí đầu tư ban đầu cho các dự án đều ở mức cao nên nhiều ngân hàng coi rủi ro trong lĩnh vực này lớn, hầu hết các đề xuất vay đều dựa vào tài sản đảm bảo nhưng xếp hạng tài sản của nhiều doanh nghiệp ngành thép tương đối thấp trong khi năng lực đánh giá, thẩm định công nghệ trong các dự án cho vay của các ngân hàng rất yếu”, ông Chu Bá Thi nêu thực trạng mà ông thấy trong quá trình khảo sát đánh giá thực trạng và đề ra giải pháp về chính sách tiết kiệm năng lượng giữa Worldbank và Bộ Công thương.

EOR19 cũng nhận ra vấn đề này và đề xuất, “các giải pháp tiết kiệm năng lượng tham vọng cần được ưu tiên hàng đầu trong Quy hoạch phát triển điện quốc gia 8”. Do chỉ khoanh vùng ở phạm vi công nghệ nên EOR19 không đề xuất những giải pháp chính sách về tài chính mà tập trung vào những vấn đề như các tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu (các thiết bị trong tòa nhà, điều hòa không khí), dán nhãn năng lượng bắt buộc cho các thiết bị sử dụng năng lượng; đầu tư mới vào các nhà máy nhiệt điện đồng phát trong công nghiệp. Kể từ năm 2015, Việt Nam đã trở thành nước nhập khẩu năng lượng nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, năm 2017 là 20%. Xu hướng tăng trưởng nhu cầu năng lượng ở Việt Nam được dự báo còn tiếp tục, kết hợp với việc khai thác tối đa tiềm năng của các nguồn nhiên liệu hóa thạch trong nước, thủy điện và sinh khối dự kiến trong tương lai (đặc biệt là trữ lượng dầu thô và khí thiên nhiên), có thể đặt ra một thách thức đối với cung cấp năng lượng bền vững ở mức chi phí hệ thống thấp nhất.

Tổng hợp: Tô Vân (tiasang.com.vn)

Published : 2022-06-28 20:48:12 by admin
img_280622034811.jpg

Tập đoàn Hạt nhân Quốc gia Trung Quốc (CNNC) thông báo ra mắt dự án xây dựng lò phản ứng công suất nhỏ dạng mô-đun (SMR) ACP100 tại Xương Giang (Changjiang), thuộc Tỉnh Hải Nam (Hainan). Việc xây dựng tổ lò thử nghiệm này được lên kế hoạch và dự kiến bắt đầu vào cuối năm 2019. Thiết kế ACP100 thuộc nhóm các lò phản ứng áp lực nước nhẹ (PWR) dạng tích hợp, được phát triển từ năm 2010. Thiết kế sơ bộ hoàn thành trong năm 2014. Các thành phần chính của vòng làm mát sơ cấp được lắp đặt trong thùng chịu áp của lò phản ứng. Lò phản ứng đa dụng có khả năng cấp điện, nhiệt, sinh hơi hoặc khử muối cho nước biển. Vào năm 2016, thiết kế này trở thành công nghệ SMR đầu tiên vượt qua thẩm định an toàn của IAEA.

ACP100 là dự án trọng điểm trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của Chính phủ Trung Quốc, công nghệ này phát triển từ PWR ACP100 có công suất lớn hơn. Thiết kế sử dụng 57 bó nhiên liệu trong vùng hoạt, với các bình sinh hơi nguyên khối, các đặc trưng an toàn thụ động và sẽ được lắp đặt dưới lòng đất. Trong năm 2016, Trung Quốc thông báo kế hoạch xây dựng một nhà máy điện hạt nhân nổi thử nghiệm dựa trên biến thể ACP100S của CNNC. Một nhà máy gồm 2 tổ lò được lên kế hoạch triển khai bởi Liên doanh Năng lượng Mới CNNC, với 51% cổ phần của CNNC và phần còn lại là đóng góp của tập đoàn China Guodian Corp, dự án dự kiến triển khai ở thị trấn Phủ Điền, tỉnh Phúc Kiến. Đầu năm 2017, địa điểm xây dựng các tổ lò ACP100 đầu tiên được thay đổi tới Xương Giang, đảo Hải Nam, một lò phản ứng lớn hơn được xây dựng ở Phủ Điền.

Nhà máy ACP100 thử nghiệm sẽ đặt ở phía Tây Bắc của nhà máy điện hạt nhân Xương Giang, theo thông báo của Bộ Môi trường Trung Quốc vào ngày 22 tháng 03. Địa điểm này đã có sẵn 2 tổ lò CNP600, và 2 tổ lò Hualong One đang dự kiến được xây dựng. CNNC thông báo thêm “Dự án Linglong One sẽ thay đổi cơ bản khả năng thiết kế, chế tạo, xây dựng và vận hành một nhà máy điện hạt nhân, giúp công ty có kinh nghiệm trong việc vận hành các cơ sở nhà máy điện hạt nhân công suất nhỏ, và có thể tham gia vào thị trường SMR trong tương lai”. “Loại lò phản ứng hạt nhân mới này có tính an toàn và kinh tế, cũng như tính linh hoạt trong việc thay đổi công suất và kích thước, đồng thời dễ dàng lựa chọn địa điểm. Thiết kế có thể cung cấp điện ở mức độ nhỏ và trung bình cho bất kỳ hệ thống tiêu thụ năng lượng nào”. Vào tháng 3, Trung Quốc thông báo việc đổ mẻ bê-tông đầu tiên cho dự án Hainan, việc xây dựng dự kiến diễn ra trong 65 tháng, và tổ lò có công suất 125 MWe sẽ vận hành vào 31 tháng Năm năm 2025.


Published : 2022-06-28 20:45:42 by admin
img_280622034542.jpg Ngày 6/8/2019, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (ATBXHN) phối hợp với Trung tâm Hợp tác quốc tế, Diễn đàn công nghiệp nguyên tử Nhật Bản (JICC) tổ chức Hội thảo khoa học lần 2 về lò phản ứng nghiên cứu. PGS.TS Nguyễn Tuấn Khải, Cục trưởng Cục ATBXHN đã chủ trì Hội thảo.

Tham dự Hội thảo, về phía Nhật Bản, có ông Tomoaki Shirakawa, Phó Tổng giám đốc điều hành/ Trưởng Đại diện Công ty Phát triển năng lượng nguyên tử quốc tế Nhật Bản (JINED) tại Việt Nam; ông Kiyonobu Yamashita, Cố vấn dự án, Trung tâm hợp tác quốc tế JAIF (JICC) và Giáo sư Ken Nakajima, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học bức xạ và hạt nhân, Trường Đại học Kyoto. Về phía Việt Nam, lãnh đạo và chuyên viên của Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật ATBXHNƯPSC, Cục ATBXHN và Viện Khoa học và kỹ thuật hạt nhân, Viện NLNTVN. Phát biểu khai mạc Hội thảo, Cục trưởng Nguyễn Tuấn Khải đã bày tỏ cám ơn đến những hỗ trợ quý báu của Nhật Bản cho Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử và cám ơn các chuyên gia Nhật Bản đã đến tham dự Hội thảo này. Cục trưởng mong muốn Hội thảo này sẽ là cơ hội tốt để trao đổi, thảo luận, học hỏi kinh nghiệm từ các chuyên gia Nhật Bản đối với các vấn đề liên quan đến lò phản ứng nghiên cứu như xây dựng văn bản, đánh giá an toàn, cấp phép,…

Tại Hội thảo, Cục trưởng Nguyễn Tuấn Khải đã giới thiệu tổng quan về ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình tại Việt Nam trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, hệ thống quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử và cơ quan pháp quy hạt nhân, các chức năng của Cục ATBXHN trong quản lý nhà nước về ATBXHN và các hoạt động nổi bật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Cục trưởng cũng giới thiệu về lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt và các lợi ích mang lại trong sản xuất đồng vị phóng xạ để sử dụng trong y tế, chiếu xạ mẫu, phân tích, nghiên cứu và đào tạo. Cục trưởng cũng thông báo về dự án Trung tâm khoa học và công nghệ hạt nhân do Nga hỗ trợ đang được các cơ quan có liên quan chuẩn bị với một lò phản ứng nghiên cứu mới.

Các chuyên gia Nhật Bản đã giới thiệu về hiện trạng điện hạt nhân của Nhật Bản, chia sẻ kinh nghiệm trong cấp phép xây dựng lò phản ứng nghiên cứu, một số vấn đề về lò phản ứng nghiên cứu tại Nhật và đánh giá các văn bản liên quan.

Governmental and Regulatory Infrastructure
A properly established legal and governmental framework provides for the regulation of facilities and activities that give rise to radiation risks and for the clear assignment of responsibilities. The government is responsible for the adoption within its national legal system of such legislation, regulations, and other standards and measures as may be necessary to fulfil all its national responsibilities and international obligations effectively, and for the establishment of an independent regulatory body.

Safety of Research Reactors
The objective of the safety of research reactors is to protect workers, members of the public and the environment against radiation hazards by proper operating conditions, the prevention of accidents and, should accidents occur, the mitigation of the radiological consequences.

Safety of Nuclear Power Plants
The safety of a nuclear power plant is ensured by means of its proper siting, design, construction and commissioning, followed by the proper management and operation of the plant. In a later phase, proper decommissioning is required

Emergency Preparedness and Response
The primary goals of preparedness and response for a nuclear or radiation emergency are: to ensure that arrangements are in place for an effective response at the scene and, as appropriate, at the local, regional, national and international levels, to a nuclear or radiation emergency; to ensure that, for reasonably foreseeable incidents, radiation risks would be minor; for any incidents that do occur, to take practical measures to mitigate any consequences for human life and health and the environment.

Radioactive Waste Management
Radioactive waste must be managed in such a way as to avoid imposing an undue burden on future generations; that is, the generations that produce the waste have to seek and apply safe, practicable and environmentally acceptable solutions for its long term management. The generation of radioactive waste must be kept to the minimum practicable level by means of appropriate design measures and procedures, such as the recycling and reuse of material

Education and Training (Giao duc va dao tao)
Việc xây dựng các chương trình giáo dục đào tạo là nền tảng cho việc đảm bảo an toàn, có được những kỹ năng thích phù hợp trong nghiên cứu, triển khai các ứng dụng liên quan đến năng lượng nguyên tử. Trong phần này sẽ đăng tải những tài liệu liên quan đến giáo dục và đào tạo trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân.

Bộ tài liệu bổ sung kiến thức của DOE
Bộ tài liệu hỗ trợ kiến thức trong lĩnh vực kỹ thuật nhà máy điện hạt nhân: Cung cấp các kiến thức vật lý hạt nhân, vật liệu, toán học, hóa học, thủy nhiệt... trong lĩnh vực nhà máy điện hạt nhân, được biên soạn, tổng hợp và ấn hành bởi Bộ năng lượng Hoa Kỳ (U.S. Department of Energy). Những tài liệu này rất hữu ích cho các cán bộ hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu công nghệ và đánh giá an toàn nhà máy điện hạt nhân.